Tư vấn Hình Sự

Điều 133 Bộ luật Hình sự quy định về Tội đe dọa giết người

admin 12/02/2025 16 phút đọc Cập nhật 03/08/2026

Trả lời nhanh: Điều 133 Bộ luật Hình sự quy định người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ việc đe dọa sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Phạm tội thuộc trường hợp tăng nặng thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Nội dung Quy định
Căn cứ pháp lý Điều 133 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Khung hình phạt cơ bản Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm khi có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa sẽ được thực hiện
Khung tăng nặng Khoản 2: phạt tù từ 02 năm đến 07 năm khi phạm tội đối với 02 người trở lên, lợi dụng chức vụ quyền hạn, đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân, đối với người dưới 16 tuổi, để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác
Chủ thể Người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên; người dưới 16 tuổi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này
Mặt chủ quan (lỗi) Lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp
Hình phạt bổ sung Điều luật không quy định hình phạt bổ sung

Điều 133 Bộ luật Hình sự quy định về Tội đe dọa giết người

Chi tiết Điều 133 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Điều 133. Tội đe dọa giết người

  1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
  3. a) Đối với 02 người trở lên;
  4. b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  5. c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
  6. d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.

Văn phòng luật sư giỏi hình sự phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm:

  • Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội đe dọa giết người nhất thiét phải đủ 16 tuổi trở lên, nếu dưới 16 tuổi thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này, vì khoản 1 Điều 133 là tội ít nghiêm trọng và khoản 2 Điều 133 là tội nghiêm trọng mà người từ đủ 14 tuổi đén dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng đã được liệt kê cụ thể tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự. luat su bao chua, luat su hinh su

  • Mặt chủ quan của tội phạm:

Người phạm tội đã thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp).

Lưu ý:

Trường hợp đe doạ giết người mà có động cơ mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản của người bị đe doạ thì không cấu thành tội này.

  • Khách thể của tội phạm:

Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến quyền được bảo vệ về tính mạng của công dân.

  • Mặt khách quan của tội phạm:

+ Hành vi:

Người phạm tội phải có hành vi làm cho người bị đe doạ lo sợ. Hành vi này chỉ có thể là hành động như bằng lời nói, cử chỉ, cách nhìn, nhưng không phải để thực hiện việc giết người mà chỉ nhằm làm cho người bị đe doạ tưởng thật là mình có thể bị giết như: mài da, lấy súng lên đạn, viết thư, nhắn tin v.v…

Hành vi đe doạ của người phạm tội phải làm cho người bị đe doạ thực sự tin rằng mình sẽ bị giết, tức là có căn cứ để xác định hành vi đe dọa đó sẽ được thực hiện; căn cứ này phát sinh từ phía người bị đe doạ không phải là căn cứ khách quan, đây là dấu hiệu đặc trưng của tội này, song lại là dấu hiệu khó xác định.

Nếu người phạm tội sau lời đe doạ lại thực hiện một số hành vi như tìm kiếm phương tiện giết người hoặc chuẩn bị phương tiện giết người thì phải xác định những hành động đó chỉ nhằm làm cho người bị đe doạ tưởng bị giết thật chứ không nhằm tước đoạt tính mạng người bị đe doạ.

Chính vì mục đích đó, nên hành vi có vẻ chuẩn bị này, người phạm tội cố ý để cho người bị đe doạ nhìn thấy hoặc người khác nhìn thấy mà người phạm tội biết rằng người này sẽ nói lại cho người bị đe doạ biết, còn hành vi chuẩn bị nhằm tước đoạt tính mạng của người khác, người phạm tội phải thực hiện một cách lén lút không cho ai biết, vì nếu để lộ sẽ không thực hiện được ý định giết người. Đây cũng là dấu hiệu cơ bản để phân biệt giữa tội đe doạ giết người với tội giết người ở giai đoạn chuẩn bị.

+ Hậu quả và mối quan hệ nhân quả:

Hậu quả của hành vi đe dọa giết người là sự lo sợ rằng việc bị giết có thể xảy ra chứ không xảy ra trên thực tế. Bởi nếu từ hành vi đe dọa được thực hiện trên thực tế, thì việc nạn nhân chết hoặc bị thương tích sẽ cấu thành tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích chứ không còn là tội đe dọa giết người nữa. luật sư hình sự

Hành vi đe dọa phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc nạn nhân lo sợ bị giết

Văn phòng luật sư uy tín tại Hà Nội trích dẫn Nghị Quyết:

Nghị quyết 04 -HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự

Chương 2: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người

  1. Tội đe dọa giết người (Điều 108) phải có hai dấu hiệu bắt buộc có hành vi đe dọa giết người; có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện.

– Phải xác định hành vi đe dọa giết người là có thật (như: nói trực tiếp công khai là sẽ giết, giơ phương tiện như súng, dao đe dọa), và phải xem xét “căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ…”, một cách khách quan, toàn diện như: thời gian, hoàn cảnh, địa điểm diễn biến, nguyên nhân sâu xa (nếu có) và trực tiếp của sự việc, mối tương quan giữa bên đe dọa và bên bị đe dọa (về thể lực, tuổi đời, trình độ v.v…). Nếu thông thường ai cũng phải lo lắng là sự đe dọa sẽ được thực hiện, thì đó là trường hợp lo lắng có căn cứ.

Nếu cùng với hành vi đe dọa, còn có hành vi chuẩn bị giết người bị đe dọa (như mài dao, lau súng đạn…) thì xử lý các hành vi đó về tội giết người (ở giai đoạn chuẩn bị) theo Điều 15 khoản 1 và Điều 101 khoản 2. Nếu sau khi đe dọa đã giết người bị đe dọa, thì xử lý về tội giết người.

Nếu đe dọa giết người để chống người thi hành công vụ, thì xử lý về tội chống người thi hành công vụ (Điều 205) mà không áp dụng điều 108.

Văn phòng luật sư Dragon chuyên tư vấn pháp luật Hình sự trực tuyến online – 1900 599 979

Để biết thêm thông tin chi tiết bạn có thể liên hệ với Luật sư Hà Nội theo địa chỉ dưới đây.

  1. Trụ sở chính văn phòng luật sư Dragon tại quận Cầu Giấy:  Phòng 6, Tầng 14, Tòa nhà VIMECO, Đường Phạm Hùng, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
  2. VPĐD Văn phòng luật sư Dragon tại quận Long Biên: Số 24 Ngõ 29 Phố Trạm, phường Long Biên, quận Long Biên, Tp Hà Nội.
  3. Chi nhánh văn phòng luật sư Dragon tại Hải Phòng: Phòng 6 tầng 4 Tòa Nhà Khánh Hội, đường Lê Hồng Phong, quận Hồng Bàng, Tp Hải Phòng.

Văn phòng luật sư cung cấp biểu phí và thù lao luật sư tham khảo tại đây

Thạc sĩ Luật sư Nguyễn Minh Long

Giải đáp nhanh

Câu hỏi thường gặp: Điều 133 Bộ luật Hình sự quy định về Tội…

1

Tội đe dọa giết người bị phạt bao nhiêu năm tù?

Người phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Nếu thuộc một trong các trường hợp tăng nặng như phạm tội đối với 02 người trở lên, lợi dụng chức vụ quyền hạn, đối với người đang thi hành công vụ hoặc đối với người dưới 16 tuổi, mức phạt là từ 02 năm đến 07 năm tù.

2

Thế nào là có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ?

Là khi hành vi đe dọa làm cho người bị đe dọa thực sự tin rằng mình sẽ bị giết. Việc đánh giá phải khách quan, toàn diện dựa trên thời gian, hoàn cảnh, địa điểm, diễn biến, nguyên nhân sự việc và tương quan giữa hai bên về thể lực, tuổi đời, trình độ. Nếu thông thường ai cũng phải lo lắng thì đó là trường hợp lo lắng có căn cứ.

3

Phân biệt tội đe dọa giết người với tội giết người ở giai đoạn chuẩn bị?

Khác biệt nằm ở mục đích và cách thực hiện. Người đe dọa giết người cố ý để nạn nhân hoặc người khác nhìn thấy hành vi có vẻ chuẩn bị, nhằm làm nạn nhân tưởng mình sẽ bị giết chứ không nhằm tước đoạt tính mạng. Ngược lại, người chuẩn bị giết người thật sự phải hành động lén lút, không để lộ, vì nếu lộ sẽ không thực hiện được ý định.

4

Trường hợp nào đe dọa giết người không cấu thành tội này?

Nếu việc đe dọa giết người có động cơ, mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản của người bị đe dọa thì không cấu thành tội đe dọa giết người. Ngoài ra, hậu quả của tội này chỉ là sự lo sợ; nếu người đe dọa đã thực sự tước đoạt tính mạng hoặc gây thương tích cho nạn nhân thì hành vi bị xử lý về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích.

5

Người dưới 16 tuổi đe dọa giết người có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Không. Chủ thể của tội đe dọa giết người phải từ đủ 16 tuổi trở lên. Khoản 1 Điều 133 là tội ít nghiêm trọng, khoản 2 là tội nghiêm trọng, trong khi người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng theo khoản 2 Điều 12. Bạn có thể liên hệ Công ty Luật TNHH Dragon để được tư vấn.

Cần tư vấn về vấn đề pháp lý này?

Công ty Luật Dragon tiếp nhận và tư vấn nhanh chóng, bảo mật.